Các trường hợp doanh nghiệp không phải trả tiền bảo hiểm nhân thọ, sức khỏe
Theo Điều 40, doanh nghiệp không phải trả tiền bảo hiểm khi người được bảo hiểm chết do tự tử trong 02 năm kể từ ngày nộp phí đầu tiên hoặc ngày khôi phục hợp đồng; chết hoặc thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của bên mua, người thụ hưởng; chết do thi hành án tử hình; hoặc trường hợp khác theo thỏa thuận. Khi đó doanh nghiệp trả giá trị hoàn lại hoặc phí đã đóng.
- 1. Căn cứ Luật Kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/01/2023, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 139/2025/QH15 (hiệu lực từ 01/01/2026). Ngày 13/3/2026, Văn phòng Quốc hội hợp nhất hai luật này tại Văn bản hợp nhất 31/VBHN-VPQH. Điều 40 thuộc Mục 2 Chương II, áp dụng cho hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và hợp đồng bảo hiểm sức khỏe.
- 2. Các trường hợp không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm Người được bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn 02 năm kể từ ngày nộp khoản phí bảo hiểm đầu tiên hoặc kể từ ngày hợp đồng khôi phục hiệu lực. Người được bảo hiểm chết do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc của người thụ hưởng. Người được bảo hiểm bị thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của chính người được bảo hiểm, bên mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng. Người được bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình. Trường hợp khác theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
- 3. Khi có nhiều người thụ hưởng Theo khoản 2 Điều 40, nếu một hoặc một số người thụ hưởng cố ý gây ra cái chết hay thương tật vĩnh viễn cho người được bảo hiểm, doanh nghiệp vẫn phải trả tiền bảo hiểm cho những người thụ hưởng khác theo thỏa thuận trong hợp đồng.
- 4. Khoản tiền doanh nghiệp vẫn phải trả Theo khoản 3 Điều 40, trong các trường hợp trên, doanh nghiệp phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng hoặc toàn bộ số phí đã đóng sau khi trừ chi phí hợp lý (nếu có) theo thỏa thuận. Nếu bên mua bảo hiểm chết, số tiền trả lại được giải quyết theo pháp luật về thừa kế.
- 5. Điều khoản loại trừ phải được giải thích rõ Theo Điều 19, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định rõ trong hợp đồng; doanh nghiệp phải giải thích rõ ràng, đầy đủ và có bằng chứng xác nhận bên mua đã được giải thích và hiểu rõ khi giao kết. Nếu bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khiến bên mua chậm thông báo sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp không được áp dụng điều khoản loại trừ về việc chậm thông báo. Theo Điều 24, điều khoản không rõ ràng dẫn đến cách hiểu khác nhau được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm.